Nếu các học viên Kinh Thánh không nhận ra cách sử dụng phép Ngoa dụ (phóng đại) của các tác giả được soi dẫn, họ sẽ không thể hiểu đúng nhiều đoạn Kinh Thánh. Cũng giống như người Mỹ nói tiếng Anh được kỳ vọng phải nhận ra và diễn giải đúng các cách diễn đạt phóng đại như “Tôi đói đến mức có thể ăn cả một con ngựa” hoặc “Tôi có cả tấn bài tập về nhà”, các học viên Kinh Thánh cũng phải nhận thức rằng Kinh Thánh chứa đựng nhiều biện pháp tu từ, bao gồm cả phép phóng đại. Khi Vua David buồn bã nói: “Tôi kiệt sức vì than thở; mỗi đêm tôi làm trôi giường mình” (Thi Thiên 6:6, thêm nhấn mạnh), ông không có ý nói theo nghĩa đen là giường của ông nổi lềnh bềnh trong nước mắt. Tương tự như vậy, khi Phao-lô lưu ý trong thư gửi cho hội thánh Cô-lô-se rằng Phúc Âm “đã được rao giảng cho mọi loài thọ tạo dưới trời” (1:23, thêm nhấn mạnh), về mặt kỹ thuật, ông không nói rằng mọi sinh vật trên Trái Đất đều nghe Tin lành. Ông thậm chí còn không nói rằng mọi người, bao gồm cả trẻ sơ sinh, người tàn tật và người mắc bệnh tâm thần, đều đã nghe Phúc Âm. Phao-lô đã sử dụng phép phóng đại để truyền đạt một sự thật đáng kinh ngạc: thế giới thời bấy giờ (của cả người Do Thái và dân ngoại) đã được tiếp xúc với Tin lành của Chúa Giê-su Christ.

Tuy nhiên, đôi khi, một câu nói hoặc lời tường thuật trong Kinh Thánh bị hiểu sai là phóng đại. Đó là trường hợp của trận Đại Hồng Thủy trong Sáng Thế Ký. Nhiều người đã kết luận rằng tất cả các câu nói trong Sáng Thế Ký 6-9 có thể được hiểu theo nghĩa đen là ám chỉ một trận đại hồng thủy toàn cầu (ví dụ: “tất cả các ngọn đồi cao… đều bị ngập lụt”—7:19) nên được hiểu theo nghĩa phóng đại. Nghĩa là, trận Đại Hồng Thủy thời Nô-ê được cho là chỉ một trận lụt cục bộ chứ không phải là trận lụt toàn cầu. Tuy nhiên, cách hiểu như vậy đầy rẫy sai lầm. Không chỉ có một câu trong Sáng Thế Ký 6-9 chỉ ra một thảm họa toàn cầu; mà có rất nhiều câu (6:12,13,17,20; 7:4,11,19,20,21,22,23,24; 8:5,14,21; 9:11,19). Hơn nữa, gánh nặng chứng minh thuộc về những người áp dụng lối diễn giải tượng trưng cho ngôn ngữ phổ quát thường được lặp lại trong đoạn văn này. Như Tiến sĩ Dungan đã lưu ý trong cuốn sách xuất sắc của ông có tựa đề Hermeneutics:
Chúng ta đã thấy rằng phần lớn Kinh Thánh được viết bằng ngôn ngữ mang tính tượng trưng cao; rằng thơ ca, lời tiên tri, và rất nhiều văn xuôi, chứa đựng những lời cường điệu cao siêu nhất của phương Đông. Vậy thì, chúng ta cần phải làm quen với các quy tắc chi phối loại ngôn ngữ này. Chúng ta biết rằng nếu chúng ta diễn giải ngôn ngữ mang nghĩa đen như thể nó mang nghĩa bóng, hoặc diễn giải ngôn ngữ mang nghĩa bóng như thể nó mang nghĩa đen, thì chắc chắn chúng ta sẽ bỏ lỡ ý nghĩa.
Làm thế nào chúng ta có thể biết được ngôn ngữ mang tính tượng trưng? Ý nghĩa của ngữ cảnh sẽ chỉ ra điều đó. Như đã nói trước đó, không có gì nên được coi là mang tính tượng trưng trừ khi một yêu cầu như vậy được đưa ra bởi ý nghĩa của ngữ cảnh trực tiếp, hoặc bởi nghĩa rõ ràng của toàn bộ đoạn văn (1888, trang 195, thêm nhấn mạnh).
Thật vậy, trận Đại Hồng Thủy thời Nô-ê không nên được hiểu theo nghĩa cường điệu (như một trận lụt cục bộ) cũng như những ngày Sáng Thế không nên được hiểu theo nghĩa bóng (như những thời đại dài của thời gian tiến hóa). Cả bối cảnh gần hay xa đều không đòi hỏi một cách hiểu như vậy.

Môi-se đã nhiều lần làm chứng rằng chính Đức Chúa Trời toàn năng, Đấng đã tạo ra Vũ trụ và mọi vật trong đó từ hư không trong sáu ngày (Sáng thế ký 1; Xuất Ê-díp-tô ký 20:11), đã khiến toàn bộ Trái đất bị nước bao phủ.
1. Ngoại trừ những người trên tàu, Đức Chúa Trời đã hứa sẽ “hủy diệt loài người… khỏi mặt đất, cả loài người lẫn loài thú, loài bò sát và chim trời” (6:7).
2. Đức Chúa Trời phán: “Kỳ cuối-cùng của mọi xác-thịt đã đưa đến trước mặt ta” (6:13).
3. Ngài hứa sẽ “đổ nước lụt xuống đất, để hủy diệt mọi xác thịt có hơi thở dưới gầm trời; mọi vật trên đất đều sẽ chết” (6:17).
4. Đức Chúa Trời truyền lệnh cho Nô-ê: “Về mọi loài xác thịt, ngươi hãy đem vào tàu mỗi loài một cặp, để giữ cho chúng sống” (6:19), vì Ngài sẽ “hủy diệt khỏi mặt đất mọi loài sống” mà Ngài đã dựng nên (7:4).
5. “Mọi nguồn nước sâu đều vỡ ra” (7:11).
6. “Mọi ngọn đồi cao dưới gầm trời đều bị ngập. Nước dâng lên cao mười lăm thước, và các núi đều bị ngập” (7:19).
7. “Mọi loài xác thịt di chuyển trên mặt đất đều chết hết… Mọi loài có hơi thở của sinh khí trong lỗ mũi, mọi loài ở trên đất liền đều chết hết. Vậy, Ngài hủy diệt mọi loài sống trên mặt đất… Chỉ còn Nô-ê và những loài ở với ông trong tàu là còn sống” (7:21-23, các nhấn mạnh được thêm vào).
Không chỉ không có yêu cầu nào từ bối cảnh gần hay xa về một cách diễn giải tượng trưng, mà điều ngược lại mới đúng. Bối cảnh đòi hỏi một cách diễn giải mang tính phổ quát, mang tính thảm họa!

1. Tại sao phải đóng tàu nếu trận Đại Hồng Thủy không xảy ra trên toàn thế giới? Tại sao không chỉ bảo Nô-ê và gia đình ông di chuyển đi xa vài trăm hoặc hàng ngàn dặm?
2. Tại sao phải mất công chăm sóc động vật trên tàu trong một năm nếu chúng có thể di cư đến các khu vực khác trên thế giới?
3. Tại sao Nô-ê và gia đình ông phải ở trên tàu hơn một năm (7:11; 8:14), nếu trận Đại Hồng Thủy chỉ là một sự kiện cục bộ?
4. Tại sao Đức Chúa Trời lại hứa: “Mọi loài xác thịt sẽ không bao giờ bị nước lụt hủy diệt nữa; cũng sẽ không bao giờ có trận hồng thủy hủy diệt đất nữa” (9:11), nếu vô số trận lụt cục bộ kể từ đó đã tàn phá nhiều nơi trên Trái Đất và giết chết hàng triệu người và động vật? Một cách diễn giải cường điệu về Sáng Thế Ký 6-9 (tức là “đây chỉ là một trận hồng thủy cục bộ”) khiến Đức Chúa Trời trở thành kẻ phá vỡ giao ước.

Phải thừa nhận rằng, các tác giả Kinh Thánh đã sử dụng nhiều phép tu từ khác nhau trong suốt Kinh Thánh, nhưng không có lý do logic nào để diễn giải Sáng Thế Ký 6-9 là cường điệu. Ngược lại, mọi thứ trong những chương này đều chỉ ra một trận Đại Hồng Thủy trên toàn thế giới. Người ta tự hỏi Đức Chúa Trời còn có điều gì khác để khiến người đọc Kinh Thánh tin vào tính phổ quát của trận Đại Hồng Thủy ngoài những gì Ngài đã phán? Đáng buồn thay, nhiều người sẽ tiếp tục bác bỏ cách giải thích theo nghĩa đen Sáng thế ký 6-9 vì cùng lý do họ bác bỏ cách giải thích theo nghĩa đen Sáng thế ký 1: họ muốn giải thích Kinh thánh theo quan điểm khoa học tiến hóa, đồng nhất hơn là theo quan điểm lý lẽ và mặc khải.
https://apologeticspress.org/the-flood-high-water-hyperbole-or-a-clear-cut-cataclysm-3731/
THAM KHẢO
Dungan, D.R. (1888), Hermeneutics (Delight, AR: Gospel Light, reprint).



