Cách đây không lâu, một sinh viên đại học đã đến văn phòng của chúng tôi và hỏi về những câu hỏi mà anh ấy cho là đáng lo ngại về sự chung sống giữa khủng long và con người. Một câu hỏi khiến anh ấy bối rối là tại sao khủng long không được nhắc đến trong Kinh Thánh. “Nếu Chúa thực sự tạo ra khủng long, và nếu con người đã từng chung sống trên Trái Đất với chúng trong quá khứ, thì chắc chắn chúng ta sẽ đọc thấy từ ‘khủng long’ ít nhất một lần trong Kinh Thánh.”
Phải thừa nhận rằng, một người sẽ không tìm thấy từ “khủng long” trong hầu hết các bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh. Tuy nhiên, điều này không phủ nhận sự thật rằng khủng long đã từng chung sống trên Trái Đất với con người. Trước hết, chúng ta phải nhớ rằng Kinh Thánh không phải là một cuốn sách phân loại học. Mục đích chính của Kinh Thánh là cho chúng ta biết về Chúa và kế hoạch cứu chuộc của Ngài, chứ không phải liệt kê tất cả các loài động vật mà Chúa tạo ra. Kinh Thánh đề cập đến nhiều loài động vật (bao gồm rắn, gà, ngựa, dê, v.v.), nhưng không phải tất cả các loài động vật. Việc Kinh Thánh không đề cập đến một loài động vật nào không có nghĩa là Kinh Thánh dạy rằng loài động vật đó chưa từng tồn tại cùng với con người. Có rất nhiều loài động vật mà Kinh Thánh không bao giờ đề cập cụ thể, bao gồm mèo, kangaroo, voi, lợn đất, thú ăn kiến, thú mỏ vịt và chim cánh cụt. Việc nói rằng những loài động vật này không cùng chung sống trên Trái Đất với con người vì Kinh Thánh không đề cập đến chúng, tất nhiên là sai. Việc cho rằng khủng long và con người chưa bao giờ sống cùng nhau chỉ vì “Kinh Thánh không đề cập đến khủng long” cũng sai lầm không kém

Thứ hai, chúng ta phải thừa nhận rằng mặc dù Kinh Thánh đã được hoàn thành cách đây 1.900 năm và được dịch đầy đủ sang tiếng Anh vào năm 1535 (bởi Miles Coverdale), nhưng từ tiếng Anh “khủng long” chỉ được đặt ra vào năm 1842—hơn 300 năm sau bản dịch tiếng Anh hoàn chỉnh đầu tiên của Cựu Ước và Tân Ước. Rõ ràng, người ta sẽ không mong đợi tìm thấy thuật ngữ tiếng Anh “khủng long” – có nghĩa là “to lớn đáng sợ” (deinos), “thằn lằn” hoặc “bò sát” (sauros) – trong bản dịch Kinh Thánh trước khi nó được đúc kết.
Thứ ba, mặc dù hầu hết các dịch giả Kinh Thánh tiếng Anh hiện đại đã chọn cách loại bỏ thuật ngữ “khủng long” trong các bản dịch được thực hiện sau năm 1842, nhưng việc loại trừ như vậy không nhất thiết có nghĩa là các tác giả Kinh Thánh đã kiềm chế việc đề cập đến khủng long hoặc các sinh vật giống khủng long. Hãy xem xét thuật ngữ tiếng Do Thái “tannin”. Trong Gióp 7:12, nó được dịch là “quái vật biển” (ASV, NASB, RSV), “quái vật biển sâu” (NIV), hoặc “rắn biển” (NKJV). Trong Sáng thế ký 1:21 và Thi thiên 148:7, khi dạng số nhiều của “tannim” được sử dụng theo nghĩa đen (như Gióp 7:12), từ này được dịch là “những sinh vật/quái vật biển lớn” (NKJV, NIV; ASV, NASB, RSV). Những “quái vật” dưới biển này là gì? Không ai biết chắc chắn. Có thể đây là những ám chỉ đến các loài bò sát giống khủng long, sống dưới nước (ví dụ: plesiosaur). Một điều thú vị nữa là Ê-sai đã đề cập đến “con rắn bay” (30:6). Mặc dù không thể biết chính xác danh tính của “con rắn bay”, chúng ta biết rằng các loài bò sát biết bay với đuôi dài và thân hình mảnh khảnh (ví dụ: Rhamphorynchus, Dimorphodon) đã từng tồn tại (xem Herodotus, 1850, tr. 75-76). Hơn nữa, Kinh Thánh còn mô tả của Đức Chúa Trời về hai sinh vật khổng lồ trong Gióp 40-41, behemoth và leviathan, nghe giống hệt khủng long hoặc các loài bò sát giống khủng long, sống dưới nước (xem Lyons, 2001).

Cuối cùng, bất kể Kinh Thánh có đề cập cụ thể đến khủng long hay không, chúng ta có thể biết rằng chúng được tạo ra cùng với con người trong tuần lễ Sáng tạo (Sáng thế ký 1), chứ không phải hàng triệu năm trước đó. “Vì trong sáu ngày, Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật trong đó” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:11, thêm nhấn mạnh).
https://apologeticspress.org/why-are-dinosaurs-not-mentioned-in-the-bible-936/


