Dạng động từ của từ “ca thương” có nghĩa là “khóc to; than thở”. Từ này ám chỉ quá trình than khóc mà người than khóc thể hiện nỗi buồn của mình bằng những lời nói buồn bã sâu sắc. Ca Thương gồm năm bài thơ tang lễ, được viết theo phong cách của một bài hát tang lễ. Giê-rê-mi được cho là tác giả được soi dẫn của Ca Thương, khiến ông nổi tiếng là “nhà tiên tri than khóc”.
Bốn bài thơ đầu tiên của Ca Thương theo mô hình chữ đầu. (Mỗi câu bắt đầu bằng một từ có chữ cái đầu tiên tương ứng theo thứ tự với bảng chữ cái tiếng Do Thái.) Bài thơ thứ ba dành ba câu cho mỗi chữ cái. Bài thơ thứ năm là lời cầu nguyện cuối cùng.
Chủ đề chính:
Ca Thương khóc than về sự phá hủy Jerusalem và Đền thờ bởi người Babylon vào năm 586 trước Công nguyên. Năm bài thơ tạo nên một biểu hiện sâu sắc về nỗi buồn trước thảm kịch đã xảy ra với Giu-đa. Nó cầu xin một ngày tốt đẹp hơn khi mọi người sẽ quay trở lại với Chúa và cuộc sống của họ được đổi mới.
Sách Ca Thương nêu bật thái độ đúng đắn đối với sự bất tuân, hình phạt và hy vọng về lòng thương xót dành cho người ăn năn. Ngay cả giữa những bi kịch của cuộc sống, “nhờ lòng thương xót của Chúa, chúng ta không bị tiêu diệt, vì lòng thương xót của Ngài không bao giờ chấm dứt. Chúng mới mỗi buổi sáng; lòng thành tín của Ngài thật lớn lao. Chúa là phần của tôi, linh hồn tôi nói, vì vậy tôi sẽ hy vọng nơi Ngài” (3:22-24).



