Trong một thế giới đầy mâu thuẫn và thay đổi, câu hỏi về lẽ thật trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Có người đã từng hỏi Đức Chúa Jêsus Christ, lẽ thật là gì (Giăng 18:38). Câu hỏi này trở thành kinh điển cho đến ngày nay vẫn còn phù hợp, và cần một lời giải đáp. Lẽ thật là sự thật, chân lý, sự tồn tại hay thực tại khách quan của mọi vấn đề. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về lẽ thật và những khía cạnh có liên quan đến nó. Quan trọng hơn nữa là chúng ta muốn lắng nghe tiếng nói của Lẽ Thật.
Trước khi đi sâu vào bài học này. Người đọc cần lưu ý tôi dùng từ “lẽ thật,” “sự thật,” và “chân lý” một cách đồng nghĩa, không có sự phân biệt. Đối với tín đồ Đấng Christ từ “lẽ thật” là không xa lạ gì, nhưng đối với người khác “chân lý” hay “sự thật” là gần gũi hơn. Do đó người đọc cần lưu ý khi bắt gặp các từ này trong bài học này.
Lẽ Thật Hay Chân Lý Có Tồn Tại?
Câu hỏi của Phi-lát, “lẽ thật là gì?” là căn bản và nền tảng cho nhiều câu hỏi. Nhưng trước khi chúng ta phân tích lẽ thật là gì, thì còn một câu hỏi quan trọng hơn là: liệu lẽ thật có tồn tại?
Phần đông người ngày nay từ chối có sự tồn tại của “chân lý bất di bất dịch” hay sự thật tuyệt đối một cách gian tiếp. Họ cho rằng chân lý chịu sự chi phối cụ thể của thời gian, không gian, và nhân tố. Do đó những gì đúng và thật, hôm nay, ngày mai có thể không còn đúng nữa. Ví dụ, trong hoàn cảnh của anh, yêu hai người là sai; nhưng của tôi thì không sai. Hay trong trường hợp của hai người cùng nhìn vào một con số, 6 hay 9.
Quan điểm trên còn được biết đến như là Thuyết Tương Đối hay chủ quan. Đại ý của nó là từ chối sự tồn tại của lẽ thật, sự thật tuyệt đối hay chân lý bất di bất dịch. Nó thường có những lời tuyên bố đại loại như sau: “không có sự thật tuyệt đối,” “tin thì có – không tin thì không có,” “không có tuyệt đối.”
Ai trong chúng ta cũng thường quen thuộc với cách nói “huề vốn,” hay những câu nói tự mẫu thuẫn với chính lời nói của nó. Ví như có ai đến gõ cửa nhà (đòi nợ) và hỏi “có ai ở nhà không?” Người trong nhà trả lời “không có ai,” hay hỏi “anh chết chưa? – người ‘chết’ trả lời: chết rồi!” Hiển nhiên câu trả lời như vậy đôi khi là hài hước vì nó bộc lộ sự mâu thuẫn với chính lời được tuyên bố.
Khi tuyên bố không có “sự thật tuyệt đối” là lời nói tự mâu thuẫn tương tự như ví dụ trên. Vì để loại lẽ thật tuyệt đối, một người phải làm cho lời tuyên bố của mình thành tuyệt đối, “không có sự thật tuyệt đối.” Nhưng khi làm như vậy thì lời tuyên bố tự mâu thuẫn với nội dung được tuyên bố.
Cốt của vấn đề nằm ở chỗ loài người từ chối lẽ thật tuyệt đối để chọn tương đối. Làm như vậy sẽ cho con người quyền quyết định hay trở thành nguồn của sự thật, để quyết định cái nào là thật và giả, đúng và sai. Do đó khi có mâu thuẫn giữa định nghĩa của mỗi người hay nhóm người về việc đúng và sai. Thì nguyên tắc tương đối được thực hiện – mạnh thắng, yếu thua, hay “thắng làm vua thua làm giặc.”
Nếu quan điểm tương đối này là đúng (dù bản thân nó vốn dĩ hoàn toàn sai), thế giới sẽ chỉ còn tóm lại chỉ trong một chữ, “loạn.” Vì lúc đó cha mẹ và con cái sẽ có mâu thuẫn, xã hội thì loạn. Đối với anh giết người, cưỡng hiếp là sai. Nhưng đối với tôi chúng là đúng. Vậy quyết định đúng-sai chỉ còn trong bạo lực và chiến tranh.
Sự thật khách quan nằm ở chỗ có quá nhiều bằng chứng chỉ ra có chân lý hay lẽ thật tuyệt đối. Một người nói không có nấm độc, người khác nói là có. Sự thật trong thực tại là nấm độc có tồn tại không phải vì cớ lời người thứ hai nói. Nhưng vì nó hiện hữu trong thực tại mặc cho con người chủ quan khẳng định hay phủ định.
Sâu xa hơn nữa, lẽ thật tuyệt đối tồn tại vì cớ thực tại của sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên vũ trụ và mọi thứ trong nó. Sự tồn tại của Ngài mang tính chất quyết định của chân lý, lẽ thật tuyệt đối. Giăng 17:17 tuyên bố lời của Đức Chúa Trời là “lẽ thật” (chân lý – sự thật).
Phi-líp hỏi hoạn quan, “ông hiểu lời mình đọc đó chăng?” Câu hỏi này ẩn chứa tiền đề là có MỘT cách hiểu Kinh Thánh đúng. Nếu không có lẽ thật, chân lý tuyệt đối – khách quan thì việc tôi hiểu với anh hiểu thì cả hai đều “đúng,” cớ gì phải hỏi như vậy. Sự thật trong câu trả lời của hoạn quan cho thấy ông thừa nhận có MỘT cách hiểu Kinh Thánh đúng, “nếu chẳng ai dạy cho tôi, thể nào tôi hiểu được” (Công vụ 8:30-31).
Đối với người vô thần thường dễ bị thu hút về chủ nghĩa tương đối. Nhưng đối với tín đồ Đấng Christ thì lẽ thật tuyệt đối là một nền tảng tuyệt đối của mọi vấn đề. Do đó tín đồ thường bị bắt bớ và gièm pha không phải chỉ vì cớ tin Đức Chúa Jêsus Christ, mà là vì lẽ thật tuyệt đối. Kể cả Đức Chúa Jêsus Christ cũng bị chính người dân của mình bắt bớ, khinh miệt, và đóng đinh không phải vì việc lành mà Ngài làm. Vì chính Ngài cương quyết khẳng định sự thật tuyệt đối Ngài là Con Đức Chúa Trời hằng sống (Ma-thi-ơ 26:63-66).
“Nhưng Đức Chúa Jêsus cứ làm thinh. Thầy cả thượng phẩm lại nói với Ngài rằng: Ta khiến ngươi chỉ Đức Chúa Trời hằng sống mà thề, hãy nói cho chúng ta, ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời chăng? 64 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời; vả lại, ta nói cùng các ngươi, về sau các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự trên mây từ trời mà xuống. 65 Thầy cả thượng phẩm bèn xé áo mình mà nói rằng: Nó đã nói phạm thượng; chúng ta còn cần gì người làm chứng nữa sao? Các ngươi vừa nghe lời phạm thượng đó, thì nghĩ làm sao? 66 Chúng trả lời rằng: Nó đáng chết!” Ma-thi-ơ 26:63–66
Lẽ Thật Là Gì?
Câu hỏi này không tìm kiếm một danh sách của lẽ thật là gì. Nói cách khác là một danh sách những điều nào là thật. Câu hỏi này nhắm đến bản chất của lẽ thật là gì? Điều gì hay bản chất nào giúp xác định lẽ thật là gì?
Thuật ngữ sự thật – lẽ thật trong tiếng Hy-Lạp (ἀλήθεια) được mô tả; “phẩm chất phù hợp với những gì đúng, trung thực, đáng tin cậy, ngay thẳng trong suy nghĩ và hành động, một sự kiện hoặc trạng thái thực tế, thực tại.” Như trong ngôn ngữ tư pháp, lẽ thật là trạng thái thực tế của sự việc được duy trì chống lại các tuyên bố khác nhau, vì vậy các nhà sử học sử dụng nó để biểu thị các sự kiện có thật khác với thần thoại, và các nhà triết học để chỉ bản thể thực theo nghĩa tuyệt đối. Lẽ thật đề cập đến những gì có thật, đáng tin cậy, hoặc hợp lệ. Nó mang lại cảm giác đáng tin cậy trong thế giới thực và sự tiết lộ chân thực — hiển thị mọi thứ như thực tế.
Như vậy dựa trên những gì bên trên chúng ta có thể hiểu lẽ thật là sự thật khách quan gắn liền với thực tại. Nó không được định nghĩa bởi con người như thể ý tưởng của con người là nguồn gốc của lẽ thật. Ý tưởng của con người không phản ánh lẽ thật. Ví dụ, đứa trẻ có ý tưởng về con ngựa có cánh biết bay. Ý tưởng trẻ con đó không nói lên sự thật là thế giới thực tại có một con ngựa như thế.
Một câu trả lời sai phổ biến cho câu hỏi “lẽ thật là gì” gắn liền với triết lý được gọi là chủ nghĩa thực dụng. Nó nói rằng một tuyên bố là đúng nếu nó hoạt động, tức là nếu nó đạt được mục đích của nó, nếu nó mang lại những hiệu quả mong muốn. Ví dụ, để động viên những người lính của mình cho một trận chiến sắp tới, một trung úy có thể nói với họ về một hành động dũng cảm đáng kinh ngạc của một trong những đồng đội đã hy sinh của họ. Mặc dù viên sĩ quan biết điều đó không bao giờ thực sự xảy ra, nó được coi là sự thật vì nó thực sự đã truyền cảm hứng cho những người lính để giành chiến thắng. Do đó chủ nghĩa thực dụng không thể xem là lẽ thật. Nói cách lời nói không tương ứng với sự thật thì không thể xem là chân lý.
Tuy nhiên, câu trả lời thực sự hợp lệ duy nhất cho câu hỏi của Phi-lát được gọi là khái niệm chân lý tương ứng. Có nghĩa là, một tuyên bố đúng nếu và chỉ khi nó tương ứng với thực tế. Một mệnh đề có thể được gọi là đúng nếu nó mô tả những gì thực sự tồn tại trong thực tế. Đây là cách tiếp cận thông thường đối với sự thật và là phương pháp được hầu hết mọi người cho rằng ngay cả khi họ chưa chính thức nghĩ về nó.
Như vậy lẽ thật tương ứng với thực tại. Nó phản ánh khách quan về sự vật sự việc. Ví như sự thật là mặt trời mọc ở hướng Đông và lặn ở hướng Tây.
Nói chung, tất cả những ý tưởng trong tâm trí của chúng ta đã được đưa vào đó từ quan điểm độc đáo của riêng chúng ta và đã được lọc thông qua các giác quan có thể sai lầm của chúng ta. Do đó, cái tồn tại trong tâm trí chúng ta dưới dạng “kiến thức” chỉ là nhận thức của chính chúng ta về sự vật, không phải bản thân sự vật. Điều này có nghĩa là chúng ta không bao giờ có thể thực sự biết nhận thức của chúng ta thực sự tương ứng với những gì tồn tại “ngoài kia” ở mức độ nào; chúng ta cũng không thể biết mức độ nhận thức của chúng ta tương ứng với nhận thức của người khác về những điều tương tự. Một hạn chế khác đối với quan điểm của chúng ta là thực tế là chúng ta không thể tiếp cận được tương lai, ngoại trừ bằng cách dự đoán và phỏng đoán. Ngoài ra, cái chết chắc chắn đặt ra một giới hạn không thể lay chuyển đối với tất cả các cuộc tìm kiếm sự thật của chúng ta.
Nguồn Gốc Của Lẽ Thật
Nếu lẽ thật (chân lý) gắn liền với thực tại, và thực tại ấy là bất di bất dịch, thì lẽ thật cũng là tuyệt đối. Điều này chỉ xảy ra khi tồn tại một Đấng hay một Thực Thể bất biến, đó chính là Đức Chúa Trời. Ngài là nguồn gốc của mọi thực tại, bởi Ngài tạo dựng nên vũ trụ và mọi vật trong đó. Kinh Thánh khẳng định: “Lời Ngài là lẽ thật” (Giăng 17:17). Như vậy, lẽ thật tuyệt đối tồn tại vì Đức Chúa Trời hiện hữu, và lẽ thật của Ngài không do con người định nghĩa hay tạo ra, nhưng có nguồn gốc từ chính bản thể Ngài.
Kết Luận
Tóm lại, khi chúng ta nói đến “lẽ thật,” là nói đến điều tương ứng với thực tại và không bị chi phối bởi cảm nhận chủ quan hay quan điểm tương đối của con người. Thế giới chung quanh có thể thay đổi, nhận thức con người có thể giới hạn, nhưng lẽ thật vẫn là chính nó. Đối với những ai tin vào Đức Chúa Trời, lẽ thật tuyệt đối nằm nơi chính Ngài và Lời Ngài. Đó là nền tảng của đức tin và điểm tựa cho đời sống. Câu hỏi “Lẽ thật là gì?” mà Phi-lát đã đặt ra không chỉ dành cho thời đại Chúa Jêsus, mà còn vang vọng đến ngày nay, mời gọi mỗi người chúng ta tìm kiếm, xác định, và nắm giữ lẽ thật trong cuộc đời.
“Hãy lấy lẽ thật làm dây nịt lưng…” (Ê-phê-sô 6:14) Nguyện xin Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật của Ngài cho chúng ta, để mỗi chúng ta vững vàng trong đức tin và đi trong ánh sáng chân lý.
Từ Ấn Phẩm: Đồng Đi Cùng Đức Chúa Trời Số 23-05|05-2023

