Khi ở trên thập tự giá, hai tên trộm ở hai bên Chúa Giê-su đã nói xấu Ngài. Nhưng sau một lúc, một trong hai tên trộm đã hối hận và xin Chúa Giê-su nhớ đến hắn khi Ngài vào vương quốc của Ngài (Luca 23:42). Chúa Giê-su đã tỏ lòng thương xót lớn lao bằng cách đảm bảo với hắn rằng hắn sẽ được phép ở cùng Chúa Giê-su ngay trong ngày hôm đó tại Thiên đường. Nhiều người nghĩ rằng vì Chúa Giê-su đã đảm bảo với tên trộm rằng hắn đã được cứu khi ở trên thập tự giá, nên hắn đã được cứu mà không cần phải chịu phép báp têm. Sau đó, họ kết luận rằng con người ngày nay không cần phải chịu phép báp têm để được cứu.
Nhưng không ai biết chắc chắn rằng tên trộm đã được Báp-têm hay chưa. Vì sống ở khu vực đó, rất có thể hắn đã nghe Giăng báp-tít hoặc Giê-su vào một dịp trước đó và tuân theo lệnh của họ để được rửa tội (Mác 1:4; Giăng 4:1-2). Trong trường hợp đó, hắn chỉ cần ăn năn tội lỗi của mình trước khi chết trên thập tự giá.
Nhưng điều rất quan trọng là phải hiểu rằng, trên thực tế, tên trộm không phải tuân theo lệnh truyền của Tân Ước là phải chịu phép báp têm trong sự chết của Đấng Christ (Rô-ma 6:3-4). Tương tự như vậy, tất cả các nhân vật khác trong Cựu Ước —như Môi-se, Áp-ra-ham và Đa-vít—không được bảo phải chịu phép báp têm. Tại sao? Tất cả họ đều sống trước khi có Cơ Đốc giáo Tân Ước. Tên trộm đã sống và chết dưới luật pháp của Môi-se trước khi Đấng Christ chết. Hắn không thể được phép báp têm trong sự chết của Đấng Christ— vì Chúa Giê-xu vẫn chưa hoàn tất sự chết của Ngài! Hắn không thể được “chôn với Ngài qua phép báp têm” (Rô-ma 6:4; Cô-lô-se 2:12)—vì Chúa Giê-xu vẫn chưa được chôn! Hội thánh của Đấng Christ chưa được thành lập, và Cơ Đốc giáo chưa bắt đầu, cho đến sau khi Đấng Christ chết—tại Giê-ru-sa-lem vào ngày Lễ Ngũ Tuần vào khoảng năm 30 sau Công nguyên (Công vụ 2).

