VẪN CÒN HY VỌNG CHO Y-SƠ-RA-ÊN                                  

Nhiều năm sau khi Đức Chúa Trời ban hành luật lệ qua Môi-se trong Xuất Ê-díp-tô Ký 34:10-16 và Phục Truyền Luật Lệ Ký 7:1-5 liên quan đến hôn nhân, dân sự đã bị lưu đày ở Babylon. Khi người Ba Tư lật đổ Đế chế Babylon, vua Ba Tư Si-ru đã ban hành sắc lệnh vào năm 536 TCN cho phép người Y-sơ-ra-ên trở về Palestine và xây dựng lại đền thờ ở Jerusalem. Xô-rô-ba-bên đã dẫn đầu làn sóng lưu đày đầu tiên của người Do Thái trở về quê hương, và cuối cùng đền thờ được xây dựng lại vào năm 515 TCN (E-xơ-ra 1-6). Hơn 50 năm trôi qua, vào năm 458 TCN, Ạt-ta-xét-xe, khi đó là vua Ba Tư, đã cho phép E-xơ-ra tập hợp làn sóng lưu đày thứ hai để trở về Jerusalem (E-xơ-ra 7-10). E-xơ-ra là một giáo viên rất am hiểu Luật pháp Môi-se. Ông và những người bạn đồng hành đã mất năm tháng để đến Jerusalem.

Mục đích lớn lao của E-xơ-ra là mang lại cải cách tôn giáo cho người Do Thái ở Palestine, tái lập các thể chế Môi-se, và phục hồi đời sống tâm linh của một dân tộc đã suy thoái về mặt xã hội, đạo đức và tôn giáo. Ông đã miệt mài làm việc để kêu gọi họ trở về với Lời Chúa đã được viết ra. E-xơ-ra đã cố gắng làm điều mà Giê-rê-mi đã cố gắng làm: “Hãy tra xét những đường lối cũ, xem đâu là đường tốt, và bước đi trong đó” (Giê-rê-mi 6:16). E-xơ-ra chính là người phù hợp cho công việc này: “Vì E-xơ-ra đã chuyên tâm nghiên cứu và tuân giữ Luật pháp của Đức Giê-hô-va, và dạy dỗ các điều răn và luật lệ trong Y-sơ-ra-ên” (E-xơ-ra 7:10). Khi Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời ngày nay (xem Ga-la-ti 6:16) trở nên lơ là và thờ ơ với ý muốn của Ngài, thì chúng ta cũng rất cần những người biết lẽ thật và sẽ dạy lẽ thật đó cho hội thánh!

Vì vậy, trong E-xơ-ra 8:15, Ê-xơ-ra bắt đầu giải quyết nhiệm vụ to lớn trước mắt, bắt đầu bằng việc sắp xếp các lễ vật tài chính cũng như dâng lễ vật thiêu cho Đức Chúa Trời. Nhưng rồi mọi thứ trở nên khó khăn. Việc vâng lời Đức Chúa Trời và đưa bản thân trở lại hòa hợp với ý muốn của Ngài thường rất khó khăn. Hãy đọc kỹ E-xơ-ra 9:1-10:12 và lưu ý sáu bài học sau đây cần rút ra:

  1. Nếu một mối quan hệ hôn nhân không được phép (tức là không phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời), nó phải được giải thể. Điều này chứng minh rằng ly hôn hoặc ly thân không phải lúc nào cũng sai, nhưng trong một số trường hợp, đó là mệnh lệnh của Đức Chúa Trời.
  2. Ngay cả khi đã có con từ cuộc hôn nhân bất chính, mối quan hệ đó vẫn phải được giải thể. Đúng vậy, đôi khi sự vâng phục thẩm quyền của Đức Chúa Trời đòi hỏi phải hy sinh tình bạn để tạo điều kiện cho sự tương giao với Đức Chúa Trời (Lu-ca 18:29-30).
  3. Trong trường hợp các mối quan hệ, sự ăn năn không chỉ đơn thuần là thừa nhận hoặc xưng tội. Nó bao gồm việc chấm dứt mối quan hệ đó để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời.
  4. Chúng ta cần thêm nhiều thành viên trong hội thánh có được nỗi buồn sâu sắc và sự hổ thẹn ăn năn như E-xơ-ra đã thể hiện, thay vì bào chữa cho tội lỗi hay đưa ra những lời cãi vã vô lý hay những lập luận ngớ ngẩn để né tránh sự nghiêm ngặt của ý muốn Chúa. Chúng ta cần những người, thay vì cố gắng tìm kiếm lợi ích hoặc vét cạn đáy thùng trong nỗ lực điên cuồng để biện minh cho những cuộc hôn nhân ngoại tình, sẽ thẳng thắn đối mặt và chấp nhận sự thật như Sê-ca-nia: “Chúng tôi đã bất trung với Đức Chúa Trời chúng tôi… Xin hãy làm theo Luật Pháp” (E-xơ-ra 10:2-3).
  • Chúng ta cần hiểu rằng nếu đã có hy vọng cho Y-sơ-ra-ên lúc bấy giờ (10:2), thì bây giờ cũng có hy vọng cho Y-sơ-ra-ên—không phải bằng cách mong đợi Chúa chỉ ngoảnh mặt làm ngơ, hay vẫy tay và xóa bỏ tội lỗi chưa từ bỏ. Chúa đã ban cho “một chút ân điển” (9:8). Ngài đã trừng phạt chúng ta ít hơn tội lỗi chúng ta đáng phải chịu (9:13). Hy vọng của chúng ta nằm ở quyết định kiên quyết ăn năn và từ bỏ những mối quan hệ không phù hợp với ý muốn Chúa. Khi ấy, Ngài sẽ tha thứ và ban phước. Nếu từ chối làm như vậy, chúng ta phải đối mặt với việc bị trục xuất khỏi hội thánh (10:8; so sánh 1 Cô-rinh-tô 5:13).
  • Chúng ta cần phải quay trở lại với việc “run sợ lời Chúa” (9:4; 10:3). Chúng ta không còn quá ấn tượng với lời Chúa nữa. Chúng ta không biết “kính sợ Đức Chúa Trời” (Truyền Đạo 12:13) hay “rơi vào tay Đức Chúa Trời hằng sống” (Hê-bơ-rơ 10:31) nghĩa là gì. E-xơ-ra đã biết. Ông hỏi một cách hùng hồn: “Liệu chúng tôi có nên lại vi phạm các điều răn của Ngài và kết hợp với những kẻ gớm ghiếc này nữa không? Chẳng lẽ Ngài sẽ không nổi giận với chúng ta cho đến khi Ngài tiêu diệt chúng ta, đến nỗi không còn sót lại một ai hay một ai sống sót sao?” (9:14). E-xơ-ra hoàn toàn đồng tình với lời của Phao-lô: “Vậy, vì biết Chúa đáng kinh sợ, chúng tôi khuyên bảo mọi người” (2 Cô-rinh-tô 5:11). Ông biết rằng sẽ không có gì thay thế được sự vâng phục thẳng thắn nếu, quả thật, “cơn thịnh nộ dữ dội của Đức Chúa Trời chúng ta đã nguôi khỏi chúng ta trong việc này” (10:14).

Kinh Thánh dạy chúng ta rằng, sớm hay muộn, chúng ta sẽ gặt những gì mình đã gieo. Chúa Giê-su phán rằng chỉ có hai khả năng: ăn năn hoặc hư mất (Lu-ca 13:3). Chúng ta đừng bao giờ ngần ngại hay do dự trong việc sống theo ý muốn của Đức Chúa Trời, bất kể khó khăn hay gian khổ. Chúng ta hãy yêu mến Ngài (1 Giăng 5:3), vì “vẫn còn hy vọng trong Y-sơ-ra-ên.”

https://apologeticspress.org/there-is-still-hope-for-Y-sơ-ra-ên-4186/

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang